Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (năm 1982)
(Được thông qua tại kỳ họp thứ năm của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa V ngày 4 tháng 12 năm 1982)
Mục lục
Lời tựa
Chương I: Tổng quát
Chương II: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Chương III: Cơ quan nhà nước
Mục I: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc
Mục II: Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Mục III: Quốc vụ viện
Mục IV: Ủy ban quân sự trung ương
Mục V: Hội đồng nhân dân và chính quyền địa phương các cấp
Mục VI: Cơ quan tự trị của khu vực dân tộc thiểu số
Mục VII: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân
Chương IV: Quốc kỳ, quốc huy, thủ đô
Lời tựa
Việt Nam là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời nhất trên thế giới. Người dân các dân tộc tại Việt Nam đã cùng nhau sáng tạo nên nền văn hóa rực rỡ và mang truyền thống cách mạng vẻ vang.
Từ năm 1840, nước ta dần chuyển từ chế độ phong kiến sang bán thuộc địa, bán phong kiến. Nhân dân Việt Nam đã không ngừng đấu tranh anh dũng để giành độc lập quốc gia, giải phóng dân tộc và tự do dân chủ.
Trong thế kỷ hai mươi, Trung Quốc đã trải qua những thay đổi lịch sử vĩ đại.
Cách mạng Tân Hợi do lãnh tụ Sun Yat-sen lãnh đạo vào năm 1911 đã bãi bỏ chế độ quân chủ phong kiến, thành lập nước Cộng hò Tuy nhiên, nhiệm vụ lịch sử của nhân dân Trung Quốc trong việc chống đế quốc và phong kiến vẫn chưa hoàn thành.
Năm 1949, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trạch Đông dẫn đầu, các dân tộc Trung Quốc đã trải qua một cuộc đấu tranh gian khổ kéo dài bằng nhiều hình thức, cuối cùng lật đổ được sự cai trị của đế quốc, phong kiến và chủ nghĩa tư bản quan liêu, đạt được thắng lợi lớn trong cách mạng dân chủ mới, thành lập nước Cộng hòa Nhân dâ Từ đó, nhân dân nắm quyền lực nhà nước và trở thành chủ nhân của đất nước.
Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân, xã hội Trung Quốc dần chuyển từ chế độ dân chủ mới sang chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc cải tạo sở hữu tư nhân về sản xuất thành sở hữu công xã chủ nghĩa đã hoàn thành, hệ thống bóc lột người bởi người đã bị xóa bỏ, chế độ xã hội chủ nghĩa đã được thiết lập. Chính quyền nhân dân dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên liên minh công nông, thực chất là chuyên chính vô sản, đã được củng cố và phát triển. ca cuoc Quân đội và nhân dân Trung Quốc đã chiến thắng mọi cuộc xâm lược và phá hoại của đế quốc và chủ nghĩa bá quyền, bảo vệ độc lập quốc gia và an ninh, tăng cường phòng thủ quốc phòng. Thành tựu kinh tế xây dựng đạt được lớn, hệ thống công nghiệp xã hội chủ nghĩa độc lập và tương đối toàn diện cơ bản đã được hình thành, năng suất nông nghiệp cũng được nâng cao đáng kể. Các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hóa đã phát triển mạnh mẽ, kết quả giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa đạt hiệu quả rõ rệt. Đời sống của đại đa số người dân có sự cải thiện đáng kể.
Thắng lợi của cách mạng dân chủ mới và thành tựu của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa đều là kết quả của việc Đảng Cộng sản lãnh đạo các dân tộc Trung Quốc tiến hành kiên trì chân lý, sửa chữa sai lầm, vượt qua nhiều khó khăn nguy hiểm dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông. Nhiệm vụ trọng yếu của đất nước trong tương lai là tập trung sức lực để xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. sv88 comvn Các dân tộc Trung Quốc sẽ tiếp tục tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, theo sự hướng dẫn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Dong, kiên trì chế độ dân chủ nhân dân, kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, không ngừng hoàn thiện các thể chế xã hội chủ nghĩa, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố pháp luật xã hội chủ nghĩa, tự lực cánh sinh, làm việc cần cù, từ từ hiện đại hóa công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng và khoa học kỹ thuật, xây dựng đất nước thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa với nền văn minh cao và dân chủ cao.
Trong nước, giai cấp bóc lột đã bị xóa bỏ như một giai cấp, nhưng đấu tranh giai cấp vẫn tồn tại trong một phạm vi nhất định và sẽ kéo dài trong thời gian dài. Nhân dân Trung Quốc phải tiến hành đấu tranh với các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm chống lại sự xâm phạm và phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa của họ.
Đài Loan là phần không thể tách rời của lãnh thổ thiêng liêng của nước Cộng hòa Nhân dâ Nhiệm vụ lịch sử hoàn thành thống nhất đất nước là trách nhiệm thiêng liêng của tất cả người dân Trung Quốc, bao gồm đồng bào Đài Loan.
Xây dựng sự nghiệp xã hội chủ nghĩa phải dựa vào công nhân, nông dân và trí thức, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết được. Trong quá trình cách mạng và xây dựng lâu dài, đã hình thành khối đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, có sự tham gia của các đảng phái dân chủ và các đoàn thể quần chúng, bao gồm tất cả các tầng lớp lao động xã hội chủ nghĩa, những người yêu nước ủng hộ chủ nghĩa xã hội và những người yêu nước ủng hộ thống nhất tổ quốc. ca cuoc Khối đại đoàn kết này sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển. Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc là tổ chức đại diện cho khối đại đoàn kết rộng rãi, đã phát huy vai trò lịch sử quan trọng trong quá khứ, và trong tương lai sẽ tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong các hoạt động chính trị, xã hội và ngoại giao quốc gia, trong xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, duy trì sự thống nhất và đoàn kết quốc gia.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia thống nhất được các dân tộc chung sức xây dựng. Mối quan hệ dân tộc xã hội chủ nghĩa bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau đã được thiết lập và sẽ tiếp tục được củng cố. Trong việc đấu tranh bảo vệ đoàn kết dân tộc, cần phải chống lại chủ nghĩa dân tộc lớn, đặc biệt là chủ nghĩa dân tộc Hán, cũng như chống lại chủ nghĩa dân tộc địa phương. Nhà nước sẽ nỗ lực hết mình để thúc đẩy sự thịnh vượng chung của tất cả các dân tộc trong cả nước.
Thành công của cách mạng và xây dựng Trung Quốc không thể tách rời sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Tương lai của Trung Quốc gắn chặt với tương lai của thế giới. Trung Quốc kiên trì chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, tuân thủ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng và có lợi ích tương hỗ, sống chung hòa bình, phát triển quan hệ ngoại giao với các nước, trao đổi và hợp tác kinh tế, văn hóa; kiên quyết chống lại chủ nghĩa đế quốc, bá quyền và chủ nghĩa thuộc địa, tăng cường đoàn kết với nhân dân các nước trên thế giới, ủng hộ các cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức và các nước đang phát triển trong việc giành và bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế dân tộc, vì mục tiêu duy trì hòa bình thế giới và thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại mà nỗ lực.
Hiến pháp này quy định bằng luật các thành quả đấu tranh của các dân tộc Trung Quốc, quy định chế độ cơ bản và nhiệm vụ cơ bản của quốc gia, là hiến pháp cơ bản của đất nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tất cả các dân tộc, mọi cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang, các đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội, các tổ chức sự nghiệp đều phải lấy Hiến pháp làm chuẩn mực hoạt động cơ bản và có trách nhiệm duy trì danh dự của Hiến pháp và đảm bảo thực hiện Hiến pháp.
Chương I: Tổng quát
Điều 1: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên liên minh công nông, thực chất là chuyên chính vô sản.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản của nước Cộng hòa Nhân dâ Cấm bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào phá hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Điều 2: Tất cả quyền lực của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thuộc về nhân dân.
Cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và các hội đồng nhân dân địa phương các cấp.
Dân chúng theo luật pháp có thể thông qua nhiều con đường và hình thức quản lý các công việc nhà nước, quản lý các công việc kinh tế và văn hóa, quản lý các công việc xã hội.
Điều 3: Nguyên tắc dân chủ tập trung được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Trung Quốc.
Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và các hội đồng nhân dân địa phương các cấp đều được bầu cử dân chủ, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu giám sát từ nhân dân.
Các cơ quan hành chính nhà nước, tòa án và viện kiểm sát đều được bầu ra bởi các hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm trước các hội đồng này và chịu sự giám sát từ chúng.
Phân công quyền hạn giữa cơ quan nhà nước trung ương và địa phương tuân theo nguyên tắc thống nhất lãnh đạo của trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động và tích cực của địa phương.
Điều 4: Tất cả các dân tộc ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều bình đẳng. Nhà nước bảo vệ các quyền hợp pháp và lợi ích của các dân tộc thiểu số, duy trì và phát triển mối quan hệ bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Cấm kỳ thị và đàn áp bất kỳ dân tộc nào, cấm các hành vi phá hoại đoàn kết dân tộc và gây chia rẽ dân tộc.
Nhà nước giúp các khu vực dân tộc thiểu số phát triển kinh tế và văn hóa nhanh chóng dựa trên đặc điểm và nhu cầu riêng của họ.
Các dân tộc thiểu số sinh sống tập trung thực hiện chế độ tự trị, thiết lập các cơ quan tự trị, thực hiện quyền tự trị. Tất cả các khu vực tự trị dân tộc đều là một phần không thể tách rời của Cộng hòa Nhân dâ
Các dân tộc có quyền sử dụng và phát triển ngôn ngữ và chữ viết của mình, cũng như giữ hoặc cải cách phong tục tập quán của mình.
Điều 5: Nhà nước bảo vệ sự thống nhất và danh dự của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Mọi luật pháp, quy định hành chính và quy định địa phương không được trái với hiến pháp.
Tất cả các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang, các đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội, các tổ chức sự nghiệp đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật đều phải bị xử lý.
Bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng không được có đặc quyền vượt quá hiến pháp và pháp luật.
Điều 6: Cơ sở của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là sở hữu công xã chủ nghĩa về tài sản sản xuất, tức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể lao động.
ai có thể làm gì thì làm
Kinh tế nhà nước là sở hữu công xã chủ nghĩa của giai cấp công nhân, là lực lượng lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhà nước bảo vệ và phát triển kinh tế nhà nước.
Điều 8: Hợp tác xã nông thôn, hợp tác xã nông nghiệp và các hình thức hợp tác khác về sản xuất, phân phối, tín dụng, tiêu dùng là sở hữu tập thể lao động của người lao động. Người lao động tham gia vào các tổ chức kinh tế tập thể nông thôn có quyền tự do kinh doanh trên đất tự quản, núi tự quản, phụ nghiệp gia đình và chăn nuôi vật nuôi tự quản theo quy định của pháp luật.
Hình thức hợp tác kinh tế ở các ngành nghề thủ công nghiệp, công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ trong các thành phố đều là sở hữu tập thể lao động của người lao động.
Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của các tổ chức và cá nhân đối với tài sản tập thể nông thôn và thành thị, khuyến khích, hướng dẫn và hỗ trợ sự phát triển của kinh tế tập thể.
Điều 9: Tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, nước, rừng, núi, thảo nguyên, sa mạc, bãi biển thuộc sở hữu toàn dân, tức là sở hữu toàn quốc; trừ các tài nguyên rừng, núi, thảo nguyên, sa mạc, bãi biển thuộc sở hữu tập thể theo quy định của pháp luật.
Nhà nước bảo vệ việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ các loài động vật quý hiếm và thực vật. Cấm mọi tổ chức hoặc cá nhân sử dụng bất kỳ phương tiện nào để chiếm đoạt hoặc phá hủy tài nguyên thiên nhiên.
Điều 10: Đất đai ở thành phố thuộc sở hữu của nhà nước.
Đất đai ở nông thôn và ngoại ô thành phố, trừ các trường hợp thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật, thuộc sở hữu tập thể; đất ở và đất tự quản, núi tự quản cũng thuộc sở hữu tập thể.
Nhà nước có thể thu hồi đất theo quy định pháp luật để phục vụ lợi ích công cộng.
Bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào không được chiếm đoạt, mua bán, cho thuê hoặc chuyển nhượng đất bằng bất kỳ hình thức nào trái pháp luật.
Tất cả các tổ chức và cá nhân sử dụng đất phải sử dụng đất một cách hợp lý.
Điều 11: Kinh tế cá thể của người lao động trong phạm vi quy định của pháp luật là bổ sung cho sở hữu công xã chủ nghĩa. Nhà nước bảo vệ quyền hợp pháp và lợi ích của kinh tế cá thể.
Nhà nước quản lý hành chính, hướng dẫn, hỗ trợ và giám sát nền kinh tế phi công nhân.
Điều 12: Tài sản công xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng và không thể xâm phạm.
Nhà nước bảo vệ tài sản công xã chủ nghĩa. Cấm mọi tổ chức hoặc cá nhân sử dụng bất kỳ phương tiện nào để chiếm đoạt hoặc phá hủy tài sản nhà nước và tài sản tập thể.
Điều 13: Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân đối với thu nhập, tiết kiệm, nhà cửa và tài sản hợp pháp khác.
Nhà nước bảo vệ quyền thừa kế tài sản tư nhân của công dân theo quy định pháp luật.
Điều 14: Nhà nước thông qua việc nâng cao tinh thần và trình độ kỹ thuật của người lao động, phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến, hoàn thiện quản lý kinh tế và hệ thống quản lý doanh nghiệp, thực hiện các hình thức trách nhiệm xã hội chủ nghĩa, cải thiện tổ chức lao động, từ đó không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất xã hội.
Nhà nước thực hiện tiết kiệm và chống lãng phí.
Nhà nước phân bổ hợp lý tích lũy và tiêu dùng, cân nhắc lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, trên cơ sở phát triển sản xuất, từ từ cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
Điều 15: Nhà nước thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa trên cơ sở sở hữu công xã chủ nghĩa. Nhà nước đảm bảo sự phát triển hài hòa của nền kinh tế quốc dân thông qua sự cân bằng tổng thể của kế hoạch kinh tế nhà nước và sự điều tiết bổ sung của thị trường.
Cấm mọi tổ chức hoặc cá nhân gây rối loạn trật tự kinh tế xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế quốc gia.
Các doanh nghiệp nhà nước có quyền tự chủ trong quản lý và điều hành trong phạm vi pháp luật quy định, dưới sự lãnh đạo thống nhất của nhà nước và việc hoàn thành đầy đủ kế hoạch nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản lý dân chủ thông qua đại hội công nhân và các hình thức khác theo quy định pháp luật.
Các tổ chức kinh tế tập thể chấp nhận sự hướng dẫn của kế hoạch nhà nước và tuân thủ các quy định pháp luật, có quyền tự chủ trong hoạt động kinh tế độc lập.
Các tổ chức kinh tế tập thể thực hiện quản lý dân chủ theo quy định pháp luật, bầu cử và bãi miễn cán bộ quản lý bởi toàn thể người lao động, quyết định các vấn đề quản lý quan trọng.
Điều 18: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho phép các doanh nghiệp nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân đầu tư theo quy định pháp luật của Trung Quốc, hợp tác kinh tế với các doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác của Trung Quốc dưới nhiều hình thức.
Các doanh nghiệp nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác tại Trung Quốc, cũng như các doanh nghiệp hợp tác giữa Trung Quốc và nước ngoài, đều phải tuân thủ pháp luật của Trung Quốc. Quyền và lợi ích hợp pháp của họ được pháp luật Trung Quốc bảo vệ.
Điều 19: Nhà nước phát triển sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ khoa học và văn hóa của toàn dân.
Nhà nước mở các trường học, phổ cập giáo dục tiểu học, phát triển giáo dục trung học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, đồng thời phát triển giáo dục mầm non.
Nhà nước phát triển các cơ sở giáo dục, xóa mù chữ, giáo dục chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và chuyên môn cho công nhân, nông dân, nhân viên nhà nước và các lao động khác, khuyến khích tự học và thành tài.
Nhà nước khuyến khích các tổ chức kinh tế tập thể, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng xã hội khác theo quy định pháp luật tổ chức các hoạt động giáo dục.
Nhà nước phổ biến tiếng phổ thông trên toàn quốc.
Điều 20: Nhà nước phát triển các sự nghiệp khoa học tự nhiên và xã hội, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, khen thưởng các thành tựu nghiên cứu khoa học và phát minh sáng tạo kỹ thuật.
Nhà nước phát triển sự nghiệp y tế, phát triển y học hiện đại và y học truyền thống Trung Quốc, khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức kinh tế tập thể nông thôn, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức khu phố xây dựng các cơ sở y tế, tổ chức các hoạt động vệ sinh quần chúng, bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Nhà nước phát triển sự nghiệp thể thao, tổ chức các hoạt động thể thao quần chúng để tăng cường sức khỏe nhân dân.
Nhà nước phát triển các sự nghiệp văn học nghệ thuật phục vụ nhân dân và phục vụ chủ nghĩa xã hội, các sự nghiệp báo chí truyền hình, xuất bản, thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa và các sự nghiệp văn hóa khác, tổ chức các hoạt động văn hóa quần chúng.
Nhà nước bảo vệ danh lam thắng cảnh, di tích quý giá và di sản văn hóa lịch sử quan trọng.
Nhà nước bồi dưỡng các nhân tài phục vụ chủ nghĩa xã hội, mở rộng đội ngũ trí thức, tạo điều kiện để phát huy vai trò của họ trong sự nghiệp hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước thông qua phổ biến lý tưởng giáo dục, đạo đức giáo dục, văn hóa giáo dục, kỷ luật và pháp luật giáo dục, thông qua việc xây dựng và thực hiện các quy định, điều lệ trong các phạm vi khác nhau của quần chúng, tăng cường xây dựng nền văn minh xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước cổ vũ đạo đức công cộng yêu nước, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu chủ nghĩa xã hội, tiến hành giáo dục yêu nước, chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa cộng sản, tiến hành giáo dục duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chống lại các tư tưởng lạc hậu như chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phong kiến và các tư tưởng khác.
Điều 25: Nhà nước thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình để điều chỉnh tốc độ tăng dân số phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội.
Điều 26: Nhà nước bảo vệ và cải thiện môi trường sống và sinh thái, phòng chống ô nhiễm và các tác hại công cộng khác.
Nhà nước tổ chức và khuyến khích trồng cây, bảo vệ rừng.
Điều 27: Tất cả các cơ quan nhà nước thực hiện nguyên tắc tinh giản, thực hiện trách nhiệm công việc, thực hiện hệ thống đào tạo và kiểm tra nhân viên, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc, chống lại chủ nghĩa quan liêu.
Tất cả các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước phải dựa vào sự ủng hộ của nhân dân, thường xuyên giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến và đề xuất của nhân dân, tiếp nhận giám sát của nhân dân, nỗ lực phục vụ nhân dân.
Điều 28: Nhà nước duy trì trật tự xã hội, trấn áp các hoạt động phản quốc và các hoạt động chống cách mạng khác, trừng phạt các hành vi phá hoại trật tự xã hội, phá hoại nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và các tội phạm khác, cải tạo và trừng phạt tội phạm.
Điều 29: Lực lượng vũ trang nhân dân Trung Quốc thuộc về nhân dân. Nhiệm vụ của nó là củng cố quốc phòng, chống lại xâm lược, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ lao động hòa bình của nhân dân, tham gia sự nghiệp xây dựng quốc gia, nỗ lực phục vụ nhân dân.
Nhà nước tăng cường xây dựng quân đội cách mạng hóa, hiện đại hóa và chuẩn hóa, tăng cường sức mạnh quốc phòng.
Điều 30: Phân chia hành chính lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như sau:
(Một) Toàn quốc được chia thành tỉnh, khu tự trị và trực thuộc thành phố;
(Hai) Tỉnh, khu tự trị được chia thành châu tự trị, huyện, huyện tự trị và thành phố;
(Ba) Huyện, huyện tự trị được chia thành xã, xã dân tộc và thị trấn.
Thành phố trực thuộc trung ương và thành phố lớn hơn được chia thành quận và huyện. Châu tự trị được chia thành huyện, huyện tự trị và thành phố.
Khu tự trị, châu tự trị và huyện tự trị đều là các khu vực tự trị dân tộc.
Trong trường hợp cần thiết, nhà nước có thể thiết lập khu hành chính đặc biệt. Hệ thống chính trị trong khu hành chính đặc biệt sẽ được quy định cụ thể theo tình hình cụ thể bởi Quốc hội Nhân dân toàn quốc.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại lãnh thổ Trung Quốc. Người nước ngoài tại Trung Quốc phải tuân thủ pháp luật của Trung Quốc.
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có thể trao quyền tị nạn cho người nước ngoài vì lý do chính trị.
Chương II: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Điều 33: Mọi người có quốc tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều là công dân Trung Quốc.
Công dân Trung Quốc bình đẳng trước pháp luật.
Mọi công dân có quyền và nghĩa vụ được quy định trong hiến pháp và pháp luật.
Công dân Trung Quốc đủ mười tám tuổi trở lên, không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, nghề nghiệp, xuất thân gia đình, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ giáo dục, tình trạng tài sản, thời gian cư trú, đều có quyền bầu cử và ứng cử; nhưng những người bị tước quyền chính trị theo quy định pháp luật là ngoại lệ.
Điều 35: Công dân Trung Quốc có quyền tự do ngôn luận, xuất bản, tụ tập, thành lập hội, tuần hành và biểu tình.
Điều 36: Công dân Trung Quốc có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Bất kỳ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hay cá nhân nào không được ép buộc công dân tin hoặc không tin tôn giáo, không được phân biệt đối xử giữa công dân tin tôn giáo và không tin tôn giáo.
Nhà nước bảo vệ các hoạt động tôn giáo bình thường. Bất kỳ ai cũng không được lợi dụng tôn giáo để phá hoại trật tự xã hội, gây hại cho sức khỏe của công dân, cản trở hệ thống giáo dục quốc gia.
Các tổ chức tôn giáo và công việc tôn giáo không chịu sự chỉ đạo của lực lượng nước ngoài.
Điều 37: Không ai có quyền tự do cá nhân của công dân bị xâm phạm.
Bất kỳ công dân nào, nếu không được phê chuẩn hoặc quyết định của Viện Kiểm sát Nhân dân hoặc phê chuẩn của Tòa án Nhân dân, và không được thi hành bởi Cơ quan Công an, thì không được bắt giữ.
Cấm giam cầm bất hợp pháp và các phương thức khác nhằm tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do cá nhân của công dân, cấm khám xét cơ thể công dân một cách bất hợp pháp.
Điều 38: Sự tôn nghiêm của công dân Trung Quốc không được xâm phạm. Cấm sử dụng bất kỳ phương tiện nào để xúc phạm, bôi nhọ hoặc vu khống công dân.
Điều 39: Nhà ở của công dân Trung Quốc không được xâm phạm. Cấm lục soát hoặc xâm nhập trái phép nhà ở của công dân.
Điều 40: Tự do và bí mật thư tín của công dân Trung Quốc được pháp luật bảo vệ. Ngoài trường hợp cần thiết cho an ninh quốc gia hoặc điều tra tội phạm hình sự, cơ quan công an hoặc cơ quan kiểm sát có thể kiểm tra thư tín theo quy định pháp luật, bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào không được xâm phạm tự do và bí mật thư tín của công dân bằng bất kỳ lý do gì.
Điều 41: Công dân Trung Quốc có quyền phê bình và đề xuất đối với bất kỳ cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước nào; có quyền kiến nghị, tố cáo hoặc tố giác đối với bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật và trách nhiệm sai sót của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước, nhưng không được bịa đặt hoặc bóp méo sự thật để vu khống.
Đối với các kiến nghị, tố cáo hoặc tố giác của công dân, cơ quan nhà nước có trách nhiệm điều tra rõ ràng và xử lý. Không ai được ngăn chặn và trả đũa.
Những người bị thiệt hại về quyền công dân do các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước vi phạm sẽ có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định pháp luật.
Điều 42: Công dân Trung Quốc có quyền và nghĩa vụ lao động.
Nhà nước thông qua nhiều con đường, tạo điều kiện lao động, tăng cường bảo vệ lao động, cải thiện điều kiện lao động, và trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao tiền lương và phúc lợi.
Lao động là trách nhiệm của tất cả các công dân có khả năng lao động. Người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức kinh tế tập thể phải đối xử với công việc của mình như chủ nhân quốc gia. Nhà nước cổ vũ cạnh tranh lao động xã hội chủ nghĩa, khen thưởng các điển hình lao động và công nhân tiên tiến. Nhà nước cổ vũ công dân tham gia lao động nghĩa vụ.
Nhà nước tiến hành đào tạo lao động cần thiết cho công dân trước khi họ đi làm.
Điều 43: Người lao động Trung Quốc có quyền nghỉ ngơi.
Nhà nước phát triển các cơ sở phục vụ nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe cho người lao động, quy định thời gian làm việc và hệ thống nghỉ phép của nhân viên.
Điều 44: Nhà nước theo quy định pháp luật thực hiện hệ thống nghỉ hưu cho nhân viên của các tổ chức sự nghiệp và nhân viên nhà nước. Cuộc sống của người nghỉ hưu được nhà nước và xã hội bảo vệ.
Công dân Trung Quốc khi già yếu, bệnh tật hoặc mất khả năng lao động có quyền từ nhà nước và xã hội nhận sự hỗ trợ vật chất. Nhà nước phát triển các sự nghiệp xã hội bảo hiểm, cứu trợ xã hội và y tế để công dân tận hưởng những quyền lợi này.
Nhà nước và xã hội đảm bảo cuộc sống cho binh lính tàn tật, chăm sóc gia đình liệt sĩ và ưu đãi gia đình binh lính.
Nhà nước và xã hội giúp bố trí lao động, cuộc sống và giáo dục cho công dân khuyết tật như mù, điếc, câm và các dạng khuyết tật khác.
Điều 46: Công dân Trung Quốc có quyền và nghĩa vụ được giáo dục.
Nhà nước bồi dưỡng thanh niên, thiếu niên và trẻ em phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ và thể chất.
Điều 47: Công dân Trung Quốc có tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác. Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ các công dân làm việc có ích cho nhân dân trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật và các lĩnh vực văn hóa khác.
Điều 48: Phụ nữ Trung Quốc ở mọi mặt của cuộc sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình đều có quyền bình đẳng với nam giới.
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ, thực hiện nguyên tắc trả lương bình đẳng giữa nam và nữ, bồi dưỡng và tuyển chọn cán bộ nữ.
Điều 49: Hôn nhân, gia đình, mẹ và trẻ em được nhà nước bảo vệ.
Cặp vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình.
Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái chưa thành niên, con cái trưởng thành có nghĩa vụ chăm sóc và hỗ trợ cha mẹ.
Cấm phá hoại tự do hôn nhân, cấm ngược đãi người già, phụ nữ và trẻ em.
Điều 50: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bảo vệ quyền lợi chính đáng của người Hoa kiều, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người Hoa hồi hương và người Hoa kiều.
Điều 51: Công dân Trung Quốc trong khi thực hiện quyền tự do và quyền lợi của mình không được làm hại lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và quyền tự do và quyền lợi hợp pháp của các công dân khác.
Điều 52: Công dân Trung Quốc có nghĩa vụ duy trì sự thống nhất quốc gia và đoàn kết giữa các dân tộc.
Điều 53: Tất cả công dân Trung Quốc phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ bí mật quốc gia, yêu quý tài sản công, tuân thủ kỷ luật lao động, tuân thủ trật tự công cộng, tôn trọng đạo đức xã hội.
Điều 54: Công dân Trung Quốc có nghĩa vụ duy trì an toàn, danh dự và lợi ích của tổ quốc, không được có hành vi gây hại đến an toàn, danh dự và lợi ích của tổ quốc.
Điều 55: Bảo vệ Tổ quốc, chống lại xâm lược là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân Trung Quốc.
Thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia đội dân quân theo quy định pháp luật là nghĩa vụ vinh quang của công dân Trung Quốc.
Điều 56: Công dân Trung Quốc có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định pháp luật.
Chương III: Cơ quan nhà nước
Mục I: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc
Điều 57: Đại hội Nhân dân Toàn quốc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Cơ quan thường trực của nó là Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Điều 58: Quốc hội toàn quốc và ủy ban thường vụ quốc hội toàn quốc thực hiện quyền lập pháp quốc gia.
Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc được bầu từ các đại biểu được bầu chọn từ các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và quân đội. Mỗi dân tộc thiểu số đều có số đại biểu thích hợp.
Cuộc bầu cử đại biểu quốc hội toàn quốc do ủy ban thường vụ quốc hội toàn quốc chủ trì.
Số lượng đại biểu quốc hội toàn quốc và phương pháp bầu đại biểu được quy định trong luật.
Điều 60: Mỗi khóa của quốc hội toàn quốc kéo dài năm năm.
Trước hai tháng khi hết nhiệm kỳ của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc phải hoàn thành việc bầu cử đại biểu cho khóa tiếp theo của Đại hội Nhân dân Toàn quốc. Nếu gặp tình huống bất thường không thể tiến hành bầu cử, Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc có thể hoãn bầu cử và kéo dài nhiệm kỳ của khóa hiện tại sau khi được thông qua bởi ít nhất hai phần ba thành viên của ủy ban với tỷ lệ phiếu bầu cao nhất. Sau khi tình huống bất thường kết thúc trong vòng một năm, việc bầu cử đại biểu cho khóa tiếp theo của Đại hội Nhân dân Toàn quốc phải được hoàn thành.
Điều 61: Đại hội Nhân dân Toàn quốc họp hàng năm, do Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc triệu tập. Nếu Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc cho rằng cần thiết hoặc có ít nhất một phần năm đại biểu của Đại hội Nhân dân Toàn quốc đề xuất, có thể triệu tập phiên họp bất thường của Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Khi quốc hội toàn quốc tổ chức phiên họp, sẽ bầu chủ tịch đoàn để chủ trì phiên họp.
Điều 62: Quốc hội toàn quốc thực hiện các quyền hạn sau:
(Một) Sửa đổi hiến pháp;
(Hai) Giám sát việc thực hiện hiến pháp;
(Ba) Ban hành và sửa đổi các luật cơ bản về hình sự, dân sự, cơ quan nhà nước và các lĩnh vực khác;
(Bốn) Bầu chủ tịch và phó chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
(5) Theo đề nghị của Chủ tịch nước, quyết định nhân sự Thủ tướng Quốc vụ viện; theo đề nghị của Thủ tướng Quốc vụ viện, quyết định nhân sự Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Ủy viên Quốc vụ viện, Bộ trưởng các bộ, Chủ nhiệm các ủy ban, Tổng Kiểm toán, Tổng Thư ký;
(6) Bầu Chủ tịch Quân ủy Trung ương; theo đề nghị của Chủ tịch Quân ủy Trung ương, quyết định nhân sự các thành viên khác của Quân ủy Trung ương;
(Bảy) Bầu chủ tịch toà án tối cao;
(Tám) Bầu viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao;
(Chín) Kiểm tra và phê duyệt báo cáo về kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội và báo cáo về việc thực hiện kế hoạch;
(Mười) Kiểm tra và phê duyệt ngân sách quốc gia và báo cáo về việc thực hiện ngân sách;
(Mười một) Thay đổi hoặc bãi bỏ quyết định không thích hợp của ủy ban thường vụ quốc hội;
(Mười hai) Phê chuẩn việc thành lập các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương;
(Mười ba) Quyết định việc thành lập và hệ thống của đặc khu hành chính;
(Mười bốn) Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình;
(Mười lăm) Các quyền hạn khác mà cơ quan quyền lực cao nhất quốc gia phải thực hiện.
Điều 63: Quốc hội toàn quốc có quyền miễn nhiệm các nhân vật sau đây:
(Một) Chủ tịch và phó chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
(Hai) Thủ tướng, phó thủ tướng, ủy viên, bộ trưởng các bộ, chủ nhiệm các uỷ ban, tổng thanh tra và thư ký quốc vụ viện;
(Ba) Chủ tịch và các thành viên khác của uỷ ban quân sự trung ương;
(Bốn) Chánh án toà án tối cao;
(Năm) Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 64: Việc sửa đổi Hiến pháp do Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc hoặc năm phần trăm trở lên đại biểu của Đại hội Nhân dân Toàn quốc đề xuất, và được thông qua bởi hai phần ba đại biểu của Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Dự thảo luật và các được thông qua bởi đa số tuyệt đối của toàn thể đại biểu quốc hội.
Điều 65: Uỷ ban thường vụ quốc hội toàn quốc gồm có:
Chủ tịch,
Một số phó chủ tịch,
Thư ký,
Một số ủy viên.
Trong thành phần của uỷ ban thường vụ quốc hội toàn quốc phải có một số đại diện đủ tiêu chuẩn dân tộc thiểu số.
Quốc hội toàn quốc bầu và có quyền miễn nhiệm các thành viên của uỷ ban thường vụ quốc hội toàn quốc.
Các thành viên của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc không được đảm nhiệm chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước, tòa án và viện kiểm sát.
Điều 66: Thời hạn mỗi khóa của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc giống với thời hạn mỗi khóa của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, nó sẽ thực hiện chức năng đến khi Đại hội Nhân dân Toàn quốc bầu ra ủy ban thường vụ mới.
Chủ tịch và phó chủ tịch uỷ ban thường vụ quốc hội toàn quốc không được phục vụ quá hai khóa liên tiếp.
Điều 67: Uỷ ban thường vụ quốc hội toàn quốc thực hiện các quyền hạn sau:
(Một) Giải thích hiến pháp, giám sát việc thực hiện hiến pháp;
(Hai) Ban hành và sửa đổi các luật khác ngoài những luật mà quốc hội toàn quốc phải ban hành;
(3) Trong thời gian giữa các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, có quyền bổ sung và sửa đổi một số nội dung của luật mà Đại hội Nhân dân Toàn quốc đã thông qua, nhưng không được trái với nguyên tắc cơ bản của luật;
(Bốn) Giải thích luật;
(5) Trong thời gian giữa các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, có quyền xem xét và phê chuẩn các phương án điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội, ngân sách nhà nước trong quá trình thực hiện cần thiết;
(Sáu) Giám sát công việc của quốc vụ viện, uỷ ban quân sự trung ương, toà án tối cao và viện kiểm sát nhân dân tối cao;
(Bảy) Huỷ bỏ các quy định hành chính, quyết định và lệnh của quốc vụ viện trái với hiến pháp và luật;
(8) Xóa bỏ các quy định và quyết định của các cơ quan quyền lực nhà nước cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, pháp luật và các quy định hành chính của trung ương;
(9) Trong thời gian giữa các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, theo đề nghị của Thủ tướng Quốc vụ viện, quyết định nhân sự của các bộ trưởng, chủ nhiệm các ủy ban, Tổng Kiểm toán, Tổng Thư ký;
(10) Trong thời gian giữa các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, theo đề nghị của Chủ tịch Quân ủy Trung ương, quyết định nhân sự các thành viên khác của Quân ủy Trung ương;
(11) Theo đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Thẩm phán, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán và Chánh án Tòa án Quân sự;
(12) Theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Ủy viên Ủy ban Kiểm sát và Chánh Kiểm sát viên Tòa án Quân sự, và phê chuẩn việc bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;
(Thirteen) Quyết định việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các đại sứ đặc mệnh toàn quyền;
(Fourteen) Quyết định việc phê chuẩn và huỷ bỏ các hiệp ước và thỏa thuận quan trọng với nước ngoài;
(Fifteen) Quy định hệ thống cấp bậc quân nhân và ngoại giao viên, cùng các hệ thống cấp bậc chuyên ngành khác;
(Sixteen) Quy định và quyết định việc trao tặng huy chương và danh hiệu vinh dự quốc gia;
(Seventeen) Quyết định đặc xá;
(18) Trong thời gian giữa các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, nếu xảy ra xâm lược vũ trang hoặc phải thực hiện hiệp ước quốc tế chung phòng ngừa xâm lược, có quyền công bố tình trạng chiến tranh;
(Nineteen) Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ;
(Twenty) Quyết định thiết quân luật trên toàn quốc hoặc ở một số tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;
(Twenty-one) Các quyền hạn khác được ủy quyền bởi quốc hội toàn quốc.
Điều 68: Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc chủ trì công việc của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc, triệu tập các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc. Phó Chủ tịch và Tổng Thư ký giúp Chủ tịch trong công việc.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Tổng Thư ký hình thành nhóm chủ tịch, xử lý công việc quan trọng hàng ngày của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Điều 69: Uỷ ban thường vụ quốc hội toàn quốc chịu trách nhiệm và báo cáo công việc trước quốc hội toàn quốc.
Điều 70: Đại hội Nhân dân Toàn quốc thành lập các ủy ban chuyên môn như Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Tài chính và Kinh tế, Ủy ban Giáo dục, Khoa học, Văn hóa và Y tế, Ủy ban Đối ngoại, Ủy ban Hoa kiều và các ủy ban chuyên môn khác cần thiết. Trong thời gian giữa các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, các ủy ban chuyên môn này chịu sự lãnh đạo của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Các ủy ban chuyên môn nghiên cứu, thảo luận và soạn thảo các dự án nghị quyết dưới sự lãnh đạo của Đại hội Nhân dân Toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Điều 71: Khi cần thiết, Đại hội Nhân dân Toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc có thể thành lập các ủy ban điều tra về các vấn đề cụ thể và đưa ra các quyết định tương ứng dựa trên báo cáo của ủy ban điều tra.
Khi tiến hành điều tra, ủy ban điều tra có quyền yêu cầu mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân cung cấp các tài liệu cần thiết.
Điều 72: Đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc và thành viên Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc có quyền, theo quy định pháp luật, lần lượt đề xuất các dự án nghị quyết thuộc thẩm quyền của Đại hội Nhân dân Toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Điều 73: Đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc trong các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, thành viên Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc trong các kỳ họp của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc, có quyền theo quy định pháp luật, lần lượt đưa ra các câu hỏi chất vấn đối với Quốc vụ viện hoặc các bộ, ủy ban của Quốc vụ viện. Cơ quan bị chất vấn phải chịu trách nhiệm trả lời.
Điều 74: Đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc, nếu không được sự cho phép của Đoàn Chủ tịch Đại hội Nhân dân Toàn quốc trong các kỳ họp, hoặc không được sự cho phép của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc trong thời gian giữa các kỳ họp, sẽ không bị bắt hoặc xét xử hình sự.
Điều 75: Phát ngôn và bỏ phiếu của đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc trong các kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc không bị truy cứu trách nhiệm pháp luật.
Điều 76: Đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc phải làm gương tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, giữ bí mật quốc gia và trong các hoạt động sản xuất, công việc và xã hội của mình, hỗ trợ việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật.
Đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với đơn vị bầu cử gốc và nhân dân, lắng nghe và phản ánh ý kiến và yêu cầu của nhân dân, nỗ lực phục vụ nhân dân.
Điều 77: Đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc chịu sự giám sát của đơn vị bầu cử gốc. Đơn vị bầu cử gốc có quyền theo quy định pháp luật bãi miễn đại biểu do mình bầu ra.
Điều 78: Tổ chức và hoạt động của Đại hội Nhân dân Toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc được quy định bởi pháp luật.
Mục II: Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Điều 79: Chủ tịch và phó chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được bầu bởi quốc hội toàn quốc.
Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và ứng cử, có thể được bầu làm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dâ
Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có cùng nhiệm kỳ với Đại hội Nhân dân Toàn quốc, không được tái cử liên tiếp quá hai nhiệm kỳ.
Điều 80: Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, theo quyết định của Đại hội Nhân dân Toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc, công bố luật, bổ nhiệm Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Ủy viên Quốc vụ viện, Bộ trưởng các bộ, Chủ nhiệm các ủy ban, Tổng Kiểm toán, Tổng Thư ký, tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự quốc gia, ban hành lệnh ân xá, lệnh thiết quân luật, tuyên bố tình trạng chiến tranh, ban hành lệnh tổng động viên.
Điều 81: Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đại diện cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tiếp nhận các nhà ngoại giao nước ngoài; theo quyết định của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc, cử và triệu hồi các đại diện toàn quyền ở nước ngoài, phê chuẩn và bãi bỏ các hiệp ước quốc tế và các thỏa thuận quan trọng với nước ngoài.
Điều 82: Phó chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hỗ trợ công việc của chủ tịch.
Phó chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có thể thay mặt chủ tịch thực hiện một số quyền hạn khi được ủy thác.
Điều 83: Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thực hiện chức trách đến khi Chủ tịch và Phó Chủ tịch được bầu mới trong kỳ họp tiếp theo của Đại hội Nhân dân Toàn quốc. ---
Điều 84: Khi chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vắng mặt, phó chủ tịch sẽ kế nhiệm chức vụ chủ tịch.
Khi phó chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vắng mặt, quốc hội toàn quốc sẽ tiến hành bầu bổ sung.
Mục III: Quốc vụ viện
Điều 86: Chính phủ quốc vụ viện gồm có:
Thủ tướng,
Một số phó thủ tướng,
Một số ủy viên,
Bộ trưởng các bộ,
Chủ nhiệm các uỷ ban,
Tổng thanh tra,
Thư ký.
Chính phủ quốc vụ viện thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ tướng. Các bộ và các uỷ ban thực hiện chế độ trách nhiệm của bộ trưởng và chủ nhiệm.
Tổ chức của chính phủ quốc vụ viện được quy định trong luật.
Điều 87: Mỗi nhiệm kỳ của chính phủ quốc vụ viện kéo dài giống như nhiệm kỳ của quốc hội toàn quốc.
Thủ tướng, phó thủ tướng và ủy viên không được phục vụ quá hai khóa liên tiếp.
Điều 88: Thủ tướng lãnh đạo công việc của chính phủ quốc vụ viện. Phó thủ tướng và ủy viên hỗ trợ thủ tướng.
Thủ tướng, phó thủ tướng, ủy viên và thư ký tạo nên hội nghị thường trực của chính phủ quốc vụ viện.
Thủ tướng triệu tập và chủ trì hội nghị thường trực và hội nghị toàn thể của chính phủ quốc vụ viện.
Điều 89: Chính phủ quốc vụ viện thực hiện các quyền hạn sau:
(Một) Theo hiến pháp và luật, đưa ra các biện pháp hành chính, ban hành các quy định hành chính, công bố các quyết định và lệnh;
(Hai) Đề xuất dự thảo luật trước quốc hội toàn quốc hoặc ủy ban thường vụ quốc hội toàn quốc;
(Năm) Soạn thảo và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội, ngân sách quốc gia;
(Sáu) Lãnh đạo và quản lý công tác kinh tế và xây dựng đô thị-nông thôn;
(Bảy) Lãnh đạo và quản lý công tác giáo dục, khoa học, văn hóa, y tế, thể thao và kế hoạch hóa gia đình;
(Tám) Lãnh đạo và quản lý công tác dân sự, công an, tư pháp hành chính và giám sát;
(Chín) Quản lý công việc đối ngoại, ký kết hiệp ước và thỏa thuận với nước ngoài;
(Mười) Lãnh đạo và quản lý công tác xây dựng quốc phòng;
(Mười một) Lãnh đạo và quản lý công tác dân tộc, đảm bảo quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số và quyền tự trị của các khu tự trị dân tộc;
(Mười hai) Bảo vệ quyền hợp pháp của người Hoa kiều, bảo vệ quyền hợp pháp của người hồi hương và thân nhân người Hoa kiều;
(Mười ba) Thay đổi hoặc bãi bỏ các lệnh, chỉ thị và quy định không thích hợp của các bộ và uỷ ban;
(Mười bốn) Thay đổi hoặc bãi bỏ các quyết định và lệnh không thích hợp của các cơ quan hành chính địa phương các cấp;
(Mười sáu) Quyết định thiết quân luật ở một số vùng trong phạm vi tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;
(Mười bảy) Xác định cơ cấu tổ chức hành chính, bổ nhiệm, đào tạo, đánh giá và thưởng phạt cán bộ hành chính theo quy định pháp luật;
(Mười tám) Các quyền hạn khác được ủy quyền bởi quốc hội toàn quốc và ủy ban thường vụ quốc hội toàn quốc.
Mục IV: Ủy ban quân sự trung ương
Điều 93: Uỷ ban quân sự trung ương lãnh đạo toàn bộ lực lượng vũ trang quốc gia.
Uỷ ban quân sự trung ương gồm có:
Chủ tịch,
Một số phó chủ tịch,
Một số ủy viên.
Uỷ ban quân sự trung ương thực hiện chế độ trách nhiệm của chủ tịch.
Nhiệm kỳ của uỷ ban quân sự trung ương kéo dài giống như nhiệm kỳ của quốc hội toàn quốc.
Mục V: Hội đồng nhân dân và chính quyền địa phương các cấp
Tổ chức của hội đồng nhân dân và chính quyền địa phương các cấp được quy định trong luật.
Điều 96: Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trở lên thành lập uỷ ban thường vụ.
Số lượng và phương pháp bầu đại biểu hội đồng nhân dân địa phương các cấp được quy định trong luật.
Hội đồng nhân dân của các dân tộc thiểu số có thể thực hiện các biện pháp cụ thể phù hợp với đặc điểm dân tộc theo thẩm quyền quy định trong luật.
Chính quyền địa phương các cấp thực hiện chế độ trách nhiệm của tỉnh trưởng, thị trưởng, huyện trưởng, quận trưởng, xã trưởng và thị xã trưởng.
Điều 106: Mỗi nhiệm kỳ của chính quyền địa phương các cấp kéo dài giống như nhiệm kỳ của hội đồng nhân dân cùng cấp.
Chính quyền tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương quyết định việc thành lập và phân chia khu vực của xã, dân tộc xã và thị trấn.
Mục VI: Cơ quan tự trị của khu vực dân tộc thiểu số
Khi nhà nước khai thác tài nguyên và xây dựng doanh nghiệp tại khu vực dân tộc tự trị, cần chú ý đến lợi ích của khu vực dân tộc tự trị.
Nhà nước giúp khu vực dân tộc tự trị đào tạo nhiều cán bộ và nhân tài chuyên môn từ dân tộc địa phương.
Mục VII: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân
Điều 123: Tòa án nhân dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là cơ quan xét xử quốc gia.
Chánh án toà án tối cao mỗi khóa nhiệm kỳ kéo dài giống như nhiệm kỳ của quốc hội toàn quốc, không được phục vụ quá hai khóa liên tiếp.
Tổ chức của toà án nhân dân được quy định trong luật.
Điều 127: Toà án tối cao là cơ quan xét xử cao nhất.
Điều 129: Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát pháp luật quốc gia.
Tổ chức của viện kiểm sát nhân dân được quy định trong luật.
Điều 132: Viện kiểm sát tối cao là cơ quan giám sát cao nhất.
Chương IV: Quốc kỳ, quốc huy, thủ đô
Điều 136: Quốc kỳ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ sao vàng.
Điều 137: Quốc huy nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở giữa là Thiên An Môn dưới ánh sáng của ngôi sao, xung quanh là lúa mạch và bánh răng.
Điều 138: Thủ đô nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Bắc Kinh.
Đường dây nóng phục vụ 24/7
400-800-1818