Quốc hội Nhân dân toàn quốc của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Quy định về quy trình làm việc của ủy ban thường vụ
(Được thông qua tại phiên họp thứ hai mươi ba của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc khóa VI ngày 24 tháng 11 năm 1987. j88 online Được sửa đổi lần đầu tiên theo quyết định của phiên họp thứ tám của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc khóa XI ngày 24 tháng 4 năm 2009 và được sửa đổi lần thứ hai theo quyết định của phiên họp thứ ba mươi lăm của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc khóa XIII ngày 24 tháng 6 năm 2022.
Mục lục
Chương I: Điều khoản chung
Chương II: Về việc triệu tập phiên họp
Chương III: Về việc đề xuất và xem xét dự án nghị quyết
Chương IV: Về việc nghe và xem xét báo cáo
Chương V: Về việc hỏi và chất vấn
Chương VI: Về phát biểu và bỏ phiếu
Chương VII: Về việc công bố
Chương VIII: Điều khoản phụ lục
Chương I: Điều khoản chung
Điều 1: Mục đích của quy tắc này là hoàn thiện quy trình làm việc của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc, bảo đảm và chuẩn hóa quyền lực của nó, dựa trên Hiến pháp, Luật tổ chức Đại hội Nhân dân Toàn quốc, và tổng kết kinh nghiệm làm việc của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc.
Điều 2: Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định và tiến hành các hoạt động theo đúng quy trình.
Điều 3: Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc kiên trì và phát triển dân chủ toàn trình, luôn duy trì mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và đề xuất của nhân dân, phản ánh ý chí của nhân dân và bảo vệ quyền lợi của họ.
Điều 4: Khi thảo luận dự án luật và đưa ra quyết định, Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân Toàn quốc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ một cách đầy đủ, và thực hiện quyền lực tập thể.
Điều 5: Khi tổ chức các kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân cần sắp xếp thời gian, chương trình và lịch trình hợp lý để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các cuộc thảo luận.
Chương II: Về việc triệu tập phiên họp
Điều 6: Các kỳ họp của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân thường được tổ chức hai tháng một lần, nhưng có thể tổ chức thêm nếu cần thiết; trong trường hợp đặc biệt, có thể triệu tập bất kỳ kỳ họp nào khi cần thiết.
Ngày triệu tập phiên họp của ủy ban thường vụ do hội đồng điều hành do chủ nhiệm ủy ban quyết định.
Phiên họp của ủy ban thường vụ được chủ trì bởi chủ nhiệm ủy ban. Chủ nhiệm có thể ủy quyền cho phó chủ nhiệm chủ trì phiên họp.
Điều 7: Phiên họp của ủy ban thường vụ phải có hơn một nửa số thành viên tham gia để được tiến hành.
Trong trường hợp đặc biệt, sau khi được hội đồng điều hành quyết định, các thành viên ủy ban có thể tham dự phiên họp qua hình thức video trực tuyến.
Điều 8: Hội đồng điều hành soạn thảo dự thảo chương trình phiên họp của ủy ban thường vụ và trình bày trước toàn thể phiên họp để quyết định.
Khi cần điều chỉnh chương trình trong thời gian kỳ họp, đề xuất sẽ được Ủy ban Thường vụ trình lên và được thông qua bởi toàn thể kỳ họp của Ủy ban Thường vụ.
Lịch trình phiên họp do hội đồng điều hành quyết định.
Điều 11: Khi tổ chức các kỳ họp, Thủ trưởng của Quốc vụ viện, Ủy ban Quân sự Trung ương, Ủy ban Giám sát Nhà nước, Tòa án Nhân dân Tối cao, và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao phải tham gia kỳ họp.
Không phải thành viên của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân, các Chủ tịch, Phó Chủ tịch, và ủy viên của các ủy ban chuyên trách của Đại hội Nhân dân Toàn quốc, các Phó Tổng thư ký của Ủy ban Thường vụ, các Giám đốc và Phó Giám đốc của các ủy ban công tác, các giám đốc và phó giám đốc của Ủy ban Cơ bản Pháp luật Hồng Kông và Ma Cao, cùng các người đứng đầu các cơ quan liên quan, sẽ tham gia kỳ họp. j88 online
Điều 13: Khi tổ chức các kỳ họp, các đại diện của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các khu vực khác có thể mời các đại biểu của Đại hội Nhân dân Toàn quốc tham gia kỳ họp.
Điều 14: Khi tổ chức các kỳ họp, Ủy ban Thường vụ tổ chức các buổi họp toàn thể và các nhóm họp nhỏ, có thể tổ chức các cuộc họp liên đoàn tùy theo yêu cầu.
Trong trường hợp đặc biệt, sau khi được hội đồng điều hành quyết định, phạm vi người tham dự có thể được điều chỉnh.
Điều 15: Khi kỳ họp diễn ra, các thành viên của Ủy ban Thường vụ phải tham dự đầy đủ; trong trường hợp không thể tham dự vì bệnh hoặc lý do đặc biệt, cần gửi đơn xin nghỉ bằng văn bản đến Văn phòng Ủy ban Thường vụ.
Điều 13: Các phiên họp nhỏ của ủy ban thường vụ do hội đồng điều hành chỉ định một số người điều phối và luân phiên chủ trì phiên họp.
Khi có ý kiến khác biệt lớn hoặc tình huống quan trọng trong quá trình thảo luận của các phiên họp nhỏ, người điều phối cần báo cáo ngay với thư ký trưởng.
Danh sách phân nhóm do văn phòng ủy ban thường vụ soạn thảo, trình thư ký trưởng phê duyệt và điều chỉnh định kỳ.
Điều 14: Ủy ban thường vụ tổ chức phiên họp liên đoàn, do chủ nhiệm chủ trì. Chủ nhiệm có thể ủy quyền cho phó chủ nhiệm chủ trì phiên họp.
Phiên họp liên đoàn có thể được tổ chức bởi nhiều nhóm cùng nhau hoặc từng nhóm liên kết với nhau.
Điều 15: Khi kỳ họp diễn ra, các thành viên của Ủy ban Thường vụ phải tham dự đầy đủ; trong trường hợp không thể tham dự vì bệnh hoặc lý do đặc biệt, cần gửi đơn xin nghỉ bằng văn bản đến Văn phòng Ủy ban Thường vụ.
Văn phòng ủy ban thường vụ phải báo cáo với chủ nhiệm về tình hình tham dự phiên họp của các thành viên và lý do vắng mặt.
Các thành viên ủy ban thường vụ cần hết sức trách nhiệm, nghiêm túc xem xét tất cả các dự án nghị quyết và báo cáo, tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật phiên họp.
Điều 16: Các kỳ họp của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân được tổ chức công khai. Thời gian, chương trình nghị sự, lịch trình và tình hình họp sẽ được công bố. Nếu cần thiết, sau khi được ủy ban Thường vụ quyết định, có thể giữ bí mật một số nội dung cụ thể.
Điều 17: Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân sử dụng công nghệ hiện đại, chuyển đổi tài liệu và tài liệu họp sang dạng kỹ thuật số, và sử dụng video trực tuyến để hỗ trợ các thành viên và người tham dự trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
Chương III: Về việc đề xuất và xem xét dự án nghị quyết
Ủy ban Thường vụ có thể trình các dự án luật thuộc thẩm quyền của mình lên kỳ họp của Ủy ban Thường vụ để xem xét.
Quốc vụ viện, Ủy ban Quân sự Trung ương, Ủy ban Giám sát Nhà nước, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, và các ủy ban chuyên trách của Đại hội Nhân dân Toàn quốc có thể trình các dự án luật thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ lên Ủy ban Thường vụ để xem xét, hoặc trước đó có thể giao cho các ủy ban chuyên trách liên quan để xem xét và báo cáo, sau đó mới quyết định đưa vào chương trình nghị sự.
Mười thành viên trở lên của Ủy ban Thường vụ có thể liên danh trình các dự án luật thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ lên Ủy ban Thường vụ để xem xét, hoặc trước đó có thể giao cho các ủy ban chuyên trách liên quan để xem xét và báo cáo, sau đó mới quyết định đưa vào chương trình nghị sự; nếu không đưa vào chương trình nghị sự, cần báo cáo hoặc giải thích với người đề xuất.
Điều 19: Dự án nghị quyết được trình lên ủy ban thường vụ để xem xét phải được nộp trước phiên họp mười ngày.
Phiên họp thường vụ khẩn cấp không áp dụng quy định này.
Để đưa ra dự án nghị quyết trước ủy ban thường vụ, phải cung cấp cả văn bản và giải thích.
Ủy ban Thường vụ có thể ủy quyền cho các ủy ban công tác hoặc văn phòng của Ủy ban Thường vụ soạn thảo dự thảo luật và báo cáo tại kỳ họp của Ủy ban Thường vụ.
Dự án luật đã đưa vào chương trình nghị sự cần có tài liệu bổ sung từ cơ quan trình dự án, các ủy ban chuyên trách liên quan và các cơ quan công tác của Ủy ban Thường vụ.
Dự thảo đề bạt và miễn nhiệm cần kèm theo hồ sơ cá nhân và lý do đề bạt hoặc miễn nhiệm; trong trường hợp cần thiết, người chịu trách nhiệm có thể trả lời câu hỏi tại kỳ họp.
Điều 22: Phiên họp toàn thể của ủy ban thường vụ nghe giải thích về dự án nghị quyết. Các dự án liên quan có thể được giải thích chung.
Sau khi nghe trình bày về dự án luật, các thành viên của Ủy ban Thường vụ sẽ thảo luận trong các nhóm họp hoặc họp liên đoàn và các ủy ban chuyên trách cũng sẽ xem xét và trình báo cáo.
Dự luật được đưa vào chương trình nghị sự sẽ được nghe trình bày và xem xét lần đầu tiên, sau đó sẽ được Ủy ban Hiến pháp và Pháp luật xem xét thống nhất và báo cáo kết quả tại kỳ họp tiếp theo hoặc các kỳ họp sau.
Dự luật về các vấn đề pháp lý và dự luật sửa đổi luật sẽ được Ủy ban Hiến pháp và Pháp luật xem xét thống nhất và có thể trình báo cáo kết quả tại kỳ họp hiện tại hoặc các kỳ họp sau.
Ban chuyên môn xem xét và đưa ra ý kiến đối với các dự án pháp luật, sau đó in ấn và phát hành cho phiên họp toàn thể.
Dự luật luật được trình tại Đại hội Nhân dân Toàn quốc có thể được trình trước tại kỳ họp của Ủy ban Thường vụ trong thời gian Đại hội Nhân dân tạm ngừng hoạt động; sau khi xem xét, Ủy ban Thường vụ sẽ quyết định trình Đại hội Nhân dân xem xét.
Dự án trình phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, kế hoạch và ngân sách điều chỉnh và quyết toán sẽ được giao cho Ủy ban Tài chính-Kinh tế xem xét, có thể đồng thời giao cho các ủy ban chuyên trách khác xem xét, và Ủy ban Tài chính-Kinh tế sẽ trình báo cáo kết quả kiểm tra tại kỳ họp của Ủy ban Thường vụ.
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và kế hoạch điều chỉnh cần được giao cho Ủy ban Tài chính-Kinh tế xem xét sơ bộ trước bốn mươi lăm ngày khi kỳ họp toàn thể của Ủy ban Thường vụ bắt đầu.
Dự thảo ngân sách điều chỉnh và quyết toán cần được giao cho Ủy ban Tài chính-Kinh tế xem xét sơ bộ trước ba mươi ngày khi kỳ họp toàn thể của Ủy ban Thường vụ bắt đầu.
Dự án trình phê duyệt hoặc gia nhập hiệp ước và thỏa thuận quan trọng sẽ được giao cho Ủy ban Đối ngoại xem xét, có thể đồng thời giao cho các ủy ban chuyên trách khác xem xét, và Ủy ban Đối ngoại sẽ trình báo cáo kết quả kiểm tra tại kỳ họp hiện tại hoặc các kỳ họp sau.
Các quy định pháp luật và điều lệ tự trị cần được phê chuẩn hoặc phê chuẩn lại cần được cơ quan lập pháp trình lên Ủy ban Thường vụ để xem xét, và các ủy ban chuyên trách sẽ xem xét và trình báo cáo.
Dự luật cần điều chỉnh hoặc bổ sung trong danh mục luật áp dụng tại Đặc khu Hành chính Hồng Kông và Đặc khu Hành chính Ma Cao, sau khi tham vấn với Ủy ban Cơ bản Pháp luật và chính phủ các khu vực, sẽ được đề xuất bởi Ủy ban Thường vụ và trình kỳ họp của Ủy ban Thường vụ để xem xét.
Kỳ họp liên đoàn của Ủy ban Thường vụ có thể nghe báo cáo của các ủy ban chuyên trách về ý kiến xem xét dự án luật và thảo luận các vấn đề nghị sự.
Người phụ trách cơ quan trình dự án có thể bổ sung giải thích về dự án tại kỳ họp toàn thể hoặc kỳ họp liên đoàn.
Dự án hoặc báo cáo được đưa vào chương trình nghị sự có thể được rút lại trước khi bỏ phiếu nếu được ủy ban Thường vụ đồng ý, và việc xem xét sẽ kết thúc.
Nếu có vấn đề lớn cần nghiên cứu thêm trong quá trình thảo luận về dự án dự kiến trình kỳ họp toàn thể, ủy ban Thường vụ hoặc ủy ban liên quan có thể đề xuất và được chấp nhận để tạm hoãn bỏ phiếu, và giao cho các ủy ban chuyên trách tiếp tục xem xét và báo cáo.
Ủy ban Thường vụ có thể tổ chức các ủy ban điều tra đặc biệt khi cần thiết và đưa ra các quyết định phù hợp dựa trên báo cáo của ủy ban điều tra.
Chương IV: Về việc nghe và xem xét báo cáo
Ủy ban Thường vụ sẽ nghe báo cáo công việc chuyên ngành của Chính phủ, Ủy ban Giám sát Nhà nước, Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao theo kế hoạch làm việc hàng năm hoặc nhu cầu cụ thể.
Ủy ban thường vụ tổ chức phiên họp toàn thể định kỳ để nghe các báo cáo sau đây:
(a) Báo cáo về việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách, báo cáo đánh giá giữa kỳ về việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong năm năm;
(Hai) Báo cáo quyết toán, báo cáo kiểm toán và báo cáo về việc khắc phục các vấn đề phát hiện từ kiểm toán;
(Ba) Báo cáo của Quốc vụ viện về tình trạng môi trường và tình hình thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường trong năm;
(Bốn) Báo cáo của Quốc vụ viện về quản lý tài sản nhà nước;
(Năm) Báo cáo của Quốc vụ viện về tình hình công tác tài chính;
(Sáu) Báo cáo kiểm tra thực thi pháp luật của nhóm kiểm tra ủy ban thường vụ;
(g) Báo cáo của các ủy ban chuyên trách về việc xem xét các kiến nghị của đại biểu tại kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc;
(h) Báo cáo của văn phòng và các cơ quan liên quan về việc xử lý kiến nghị, góp ý và ý kiến của đại biểu tại kỳ họp của Đại hội Nhân dân Toàn quốc;
(Chín) Báo cáo về công tác giám sát pháp luật của ủy ban pháp chế của ủy ban thường vụ;
(Mười) Các báo cáo khác.
Điều 34: Sau khi phiên họp toàn thể nghe báo cáo, có thể tổ chức thảo luận tại các phiên họp nhỏ hoặc phiên họp liên đoàn.
Hội đồng điều hành có thể quyết định chuyển báo cáo cho các ủy ban chuyên môn liên quan để xem xét và đưa ra ý kiến.
Điều 35: Ý kiến của các thành viên của Ủy ban Thường vụ về các báo cáo sẽ được giao cho cơ quan liên quan nghiên cứu và xử lý. Cơ quan liên quan phải trình báo cáo bằng văn bản về việc nghiên cứu và xử lý.
Ủy ban Thường vụ có thể quyết định các nghị quyết đối với các báo cáo cụ thể nếu cần thiết. Cơ quan liên quan phải báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết trong thời hạn quy định.
Ủy ban Thường vụ có thể đề xuất các quyết định về các vấn đề pháp luật hoặc quan trọng dựa trên các khuyến nghị trong báo cáo công việc hoặc ý kiến của các thành viên, trình Ủy ban Thường vụ xem xét, hoặc trình Đại hội Nhân dân Toàn quốc xem xét nếu cần thiết.
Chương V: Về việc hỏi và chất vấn
Điều 36: Các nhóm họp của Ủy ban Thường vụ sẽ thảo luận về dự án luật hoặc báo cáo liên quan, và nên thông báo cho các cơ quan liên quan cử người tham dự, lắng nghe ý kiến và trả lời các câu hỏi.
Khi thảo luận về dự án luật hoặc báo cáo tại kỳ họp liên đoàn, cần thông báo cho người có trách nhiệm tham dự, lắng nghe ý kiến và trả lời các câu hỏi.
Điều 37: Để giải quyết các vấn đề lớn liên quan đến cải cách phát triển và ổn định xã hội, cũng như các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân và được dư luận quan tâm rộng rãi, Ủy ban Thường vụ có thể tổ chức các kỳ họp liên đoàn hoặc nhóm họp chuyên môn để chất vấn.
Theo chủ đề chất vấn, thủ trưởng và các quan chức của Quốc vụ viện và các cơ quan liên quan, cũng như lãnh đạo của Ủy ban Giám sát Nhà nước, Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao phải tham dự, lắng nghe ý kiến và trả lời các câu hỏi.
Ý kiến trong quá trình chất vấn sẽ được giao cho các cơ quan liên quan nghiên cứu và xử lý, và các cơ quan này cần báo cáo kịp thời tình hình nghiên cứu và xử lý cho Ủy ban Thường vụ. Cần thiết thì ủy ban Thường vụ có thể trình báo cáo nghiên cứu và xử lý để Ủy ban Thường vụ xem xét và đưa ra nghị quyết.
Điều 38: Theo kế hoạch công tác của Ủy ban Thường vụ hoặc theo ủy thác của ủy ban Thường vụ, các ủy ban chuyên trách có thể tiến hành khảo sát và chất vấn về các vấn đề cụ thể và trình báo cáo về kết quả khảo sát và chất vấn.
Điều 39: Trong thời gian kỳ họp, mười thành viên của Ủy ban Thường vụ trở lên có thể viết chất vấn đối với Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ, cũng như Ủy ban Giám sát Nhà nước, Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
Điều 40: Yêu cầu chất vấn phải ghi rõ đối tượng chất vấn, câu hỏi và nội dung.
Điều 41: Chất vấn sẽ được ủy ban Thường vụ quyết định giao cho ủy ban chuyên trách xem xét hoặc trình kỳ họp của Ủy ban Thường vụ xem xét.
Điều 42: Chất vấn sẽ được ủy ban Thường vụ quyết định, người có trách nhiệm của cơ quan bị chất vấn sẽ trả lời bằng miệng tại kỳ họp của Ủy ban Thường vụ hoặc tại các kỳ họp của ủy ban chuyên trách liên quan. Nếu trả lời tại các kỳ họp của ủy ban chuyên trách, ủy ban chuyên trách phải trình báo cáo cho kỳ họp của Ủy ban Thường vụ hoặc ủy ban Thường vụ.
Trả lời bằng văn bản, phải có chữ ký của người có trách nhiệm của cơ quan bị chất vấn và được phát hành cho các thành viên của Ủy ban Thường vụ và các ủy ban chuyên trách liên quan.
Khi ủy ban chuyên môn xem xét yêu cầu chất vấn, các thành viên ủy ban thường vụ đưa ra yêu cầu có thể tham dự và trình bày ý kiến.
Chương VI: Về phát biểu và bỏ phiếu
Điều 43: Các thành viên của Ủy ban Thường vụ khi phát biểu tại các kỳ họp toàn thể, liên đoàn hoặc nhóm họp phải tuân theo chủ đề đã xác định.
Khi sắp xếp thảo luận về các vấn đề cụ thể tại kỳ họp toàn thể hoặc liên đoàn, các thành viên của Ủy ban Thường vụ muốn phát biểu phải đăng ký trước với Văn phòng Ủy ban Thường vụ; trình tự phát biểu sẽ được sắp xếp bởi người chủ trì. Phát biểu bất ngờ trong các kỳ họp toàn thể và liên đoàn chỉ được phép nếu được sự đồng ý của người chủ trì. kèo bóng đá trực tiếp hôm nay Phát biểu trong các nhóm họp có thể được phép ngay sau khi được sự đồng ý của người chủ trì.
Phát biểu của người tham dự phiên họp áp dụng theo các quy định tương ứng trong chương này.
Điều 44: Thời gian phát biểu tại các kỳ họp toàn thể và liên đoàn không quá mười phút; tại các nhóm họp, lần phát biểu đầu tiên không quá mười lăm phút, lần phát biểu thứ hai không quá mười phút. Nếu có yêu cầu trước, được sự đồng ý của người chủ trì, thời gian phát biểu có thể được kéo dài.
Phát biểu tại kỳ họp của Ủy ban Thường vụ sẽ được ghi lại bởi nhân viên của Văn phòng Ủy ban Thường vụ, được kiểm tra và ký xác nhận bởi người phát biểu trước khi biên soạn thành bản tóm tắt và lưu trữ. Bản tóm tắt có thể là bản giấy hoặc điện tử.
Điều 45: Bỏ phiếu dự án nghị quyết phải được thông qua với sự tán thành của hơn một nửa tổng số thành viên của ủy ban thường vụ.
Kết quả bỏ phiếu sẽ được công bố ngay lập tức bởi người chủ trì phiên họp.
Các thành viên tham dự kỳ họp phải tham gia bỏ phiếu. Khi bỏ phiếu, các thành viên có thể biểu thị sự đồng ý, phản đối hoặc từ chối.
Điều 46: Dự án nghị quyết được trình bỏ phiếu, nếu có sửa đổi thì sẽ bỏ phiếu trước sửa đổi.
Điều 47: Các dự án miễn nhiệm, bãi nhiệm sẽ bỏ phiếu từng người một, có thể hợp nhất bỏ phiếu tùy theo tình hình cụ thể.
Điều 48: Kỳ họp của Ủy ban Thường vụ bỏ phiếu thông qua các dự án luật bằng cách bỏ phiếu kín qua máy bấm. Các thành viên phải sử dụng máy bấm. Nếu hệ thống máy bấm gặp sự cố, có thể sử dụng phương thức giơ tay hoặc các phương thức khác.
Các thành viên ủy ban thường vụ tham dự phiên họp qua hình thức video trực tuyến sẽ bỏ phiếu bằng cách giơ tay hoặc phương thức khác.
Chương VII: Về việc công bố
Điều 49: Luật được ủy ban thường vụ thông qua sẽ được công bố bởi chủ tịch nước dưới hình thức lệnh của chủ tịch.
Các quyết định và nghị quyết khác của ủy ban thường vụ sẽ được công bố bởi chính ủy ban thường vụ.
Các quyết định của Ủy ban Thường vụ về việc giải thích luật, về bầu cử, bổ nhiệm, từ chức và bãi nhiệm đại biểu của Đại hội Nhân dân Toàn quốc sẽ được công bố thông qua thông báo của Ủy ban Thường vụ.
Chức vụ Phó Thủ tướng, ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng các bộ, chủ nhiệm các ủy ban, Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, Kiểm toán trưởng và Thư ký của Chính phủ sẽ được phê chuẩn và công bố bởi Chủ tịch nước dựa trên quyết định của Ủy ban Thường vụ.
Các quyết định, nghị quyết và báo cáo của Ủy ban Thường vụ, cùng các giải thích về việc sửa đổi, báo cáo về kết quả xem xét, thông báo công khai và quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập các hiệp ước và thỏa thuận quan trọng, sẽ được công bố trên Báo cáo của Ủy ban Thường vụ và trên trang web của Quốc hội Nhân dân.
Chương VIII: Điều khoản phụ lục
Điều 52: Quy tắc này có hiệu lực kể từ ngày công bố.
Đường dây nóng phục vụ 24/7
400-800-1818